
Bạch thược và xích thược về công dụng trị liệu gần giống nhau và đều được dùng để dưỡng huyết, giảm đau, nhuận gan…
Bạch thược
Bạch thược là rễ phơi hay sấy khô của cây thược dược. Chủ trị can cấp làm cho tỳ, cạnh sườn, bụng đau. Thành phần hóa học trong bạch thược có tinh bột, tanin, canxi oxalat, một ít tinh dầu, axit benzoic, nhựa và chất béo, chất nhầy, tỷ lệ axit benzoic, chừng 1,07%.

Vị thuốc Bạch Thược sau khi đã qua xử lý
Theo đông y bạch thược có vị đắng, chua hơi hàn, vào 3 kinh can, tỳ và phế có tác dụng nhuận gan, làm hết đau, dưỡng huyết, liễm âm, lợi tiểu, dùng chữa đau bụng, tả lỵ, lưng ngực đau, kinh nguyệt không đều, mồ hôi trộm, tiểu tiện khó. Được dùng làm thuốc giảm đau, thông kinh trong những bệnh đau bụng (do ruột co bóp quá mạnh), nhức đầu, chân tay nhức mỏi, còn dùng chữa phụ nữ bế kinh, xích bạch đới lâu năm không khỏi, đau lưng, trúng ác khí, hen suyễn, dương duy mạch có hàn nhiệt, can huyết bất túc, phế cấp trướng nghịch…
Đơn thuốc có thược dược:
Chữa loét dạ dày: Bạch thược 15 – 20g, Cam thảo 12 – 15g; nếu tỳ vị hư hàn, cho thêm Đảng sâm, Hoàng kỳ mỗi vị 12g, Phục linh 20g, Can khương 10g. Sắc lấy nước uống.
Chữa các chứng đau bụng: Sài hồ 6g, Bạch thược 12g, Chỉ thực 6g, Chích Cam thảo 4g, sắc uống trong ngày. Trường hợp kiết lỵ đau bụng mót rặn dùng Bạch thược 24g, Hoàng cầm 12g, Xuyên liên 6g, Đại hoàng 8g (cho sau), Mộc hương 8g (cho sau), Binh lang 8g, Đương quy 12g, Quế nhục 2g, Cam thảo 4g. Tất cả sắc uống.
Chữa rối loạn kinh nguyệt: Bạch thược 12g, Đương quy 12g, Hương phụ chế 8g, Sinh địa 10g, Sài hồ 10g, Xuyên khung 10g, Thanh bì 6g, Cam thảo 3g, sắc uống ngày 1 thang trị đau bụng kinh. Hay bài “Tứ vật thang” gồm Thục địa 20g, Đương quy 12g, Bạch thược 12g, Xuyên khung 6 – 8g. Nếu khí hư gia Đảng sâm, Hoàng kỳ để bổ khí huyết, nếu ứ huyết nặng gia thêm Đào nhân, Hồng hoa để tăng tác dụng hoạt huyết hóa ứ.
Chữa chứng co giật cơ: Bạch thược 16g, Cam thảo 16g. Tất cả sắc uống ngày 1 thang. Có thể dùng thêm bài thuốc: Bạch thược 30g, Quế chi 15g, Cam thảo 15g, Mộc qua 10g, sắc uống ngày 1 thang.

Vị thuốc Bạch Thược chữa rối loạn kinh nguyệt
Xích thược
Xích thược là rẻ phơi hay sấy khô của 3 loài cây: Bạch dược, thảo thược dược và xuyên xích thược. Tất cả xích thược đều do cây mọc hoang cung cấp, vào các tháng 3-5 hay các tháng 5-10 đào về, trừ bỏ thân rễ và rễ nhỏ, chia thành từng rễ to nhỏ riêng biệt, rửa sạch đất cát; phơi khô là được.
Thành phần hóa học như bạch thược: Có tinh bột, tanin, nhựa, chất nhầy, chất đường, sắc tố và axit benzoic, tỷ lệ axit benzoic trong xích thược thấp hơn bạch thược (0,92%).
Theo đông y, xích thược có vị đắng, nặng, công dụng thiên về sơ tả, cho nên lương dược huyết, hành được ứ, tiêu thũng, công dụng chữa đau mạch hơn bạch thược. Chủ trị các bệnh huyết ứ, bụng đau.
Ngoài ra, xích thược còn được dùng đơn độc hoặc phối hợp với các vị thuốc khác chủ trị các chứng: đau nhức xương khớp, loét dạ dày, nhọt sưng ở vú, chấn thương tụ máu, đau mắt đỏ có kéo màng, mắt đỏ do nóng gan…
- Xem thêm: Bài thuốc Đông Y trị đau nhức xương khớp hiệu quả

Vị thuốc Xích thược sau khi đã qua xử lý
Đơn thuốc có xích thược:
- Chữa chảy máu cam: Xích thược tán nhỏ. Mỗi lần uống 6-8g.
- Chữa băng huyết bạch đới: Xích thược, hương phụ hai vị bằng nhau, tán nhỏ. Mỗi lần uống 6- 8g. Ngày uống 2 lần. Uống trong 4-5 ngày.
Lưu ý: Để đảm bảo an toàn cho sức khỏe, trước khi sử dụng bạch thược hoặc xích thược để chữa bệnh, bạn cần trao đổi kỹ với bác sĩ, tuyệt đối không tự ý dùng dược liệu trong bất cứ trường hợp nào.
Trên đây là những thông tin về vị thuốc Bạch thược và Xích thược, hy vọng bài viết giúp ích cho các bạn. Gọi đến hotline 02839 808 808 để được tư vấn nếu bạn có thắc mắc.
>> Lưu ý: Sản phẩm này không phải là thuốc và không có tác dụng thay thế thuốc chữa bệnh.

